QUÊ TÔI

Home Diễn Đàn Thơ Văn Forum QUÊ TÔI

This topic contains 10 replies, has 1 voice, and was last updated by  Phan Nam 2 weeks, 2 days ago.

  • Author
    Posts
  • #912

    Phan Nam
    Moderator

    QUÊ TÔI

    Quê tôi có lắm núi đèo cao!
    Trăng lộng quanh năm nước ngọt ngào
    Gởi gắm trăm niềm câu thế sự!
    Cây rừng mạch nước tạo giòng sâu.

    *
    Như ngày tháng Hạ ngát hương sen
    Thôn nữ bơi thuyền lướt sóng êm
    Vói hái nhụy vàng đem mộng ướp…
    Êm đềm gió thoảng cảnh trăng đêm!

    *
    Đất nước thanh bình làng xóm yên
    Thu sang hò hẹn bóng trăng non
    Tình anh em giữ trong lòng ấy
    Đợi đến khi nào mới hợp duyên?

    *
    Đất nước thanh bình làng xóm yên
    Đẩy đưa nam nữ khối tình riêng
    Xuân sang lưu luyến mùa Đông trước
    Đình Hội đâu đây giục trống quân!

    *
    Cây khế nhà em chim qụa bay
    Ngang qua gieo hạt ngát lòng say
    Lạy trời năm tháng xanh tươi mãi
    Hai khế bên nhà, cầu nối dây!

    Phan Nam

    • This topic was modified 2 years, 4 months ago by  Phan Nam.
  • #1030

    Phan Nam
    Moderator

    HOA SIM RỪNG XANH

    Đã bao năm không về thăm quê hương
    Miền thôn dã ngày xưa tôi lớn lên
    Đầy bao kỷ niệm, với hoa rừng đẹp!
    Núi xanh kia xanh độ mấy năm ròng…
    Thay lá màu thay cả khói sương tan
    Nắng dội mưa chiều mây trắng bay
    Hoa sim tím rịm trái màu chín ngọt
    Tôi thường hái khoe em nhiều cả nón
    Những ổi rừng dú dẻ trái chim chim
    Vui đùa trong đồng nội sau mùa gặt
    Chim bói cá ao sen, đậu cây vừng
    Nghe tiếng chuột- sành kêu cùng ếch nhái
    Như nhạc trời trỗi khúc mỗi đêm vang
    Thân thể đó tôi lớn lên nhìn hoa núi
    Ánh thu về tràn khắp lá bay sang
    Tiếng chày giã gạo nhà ai thình thịch
    Mõ gió đuổi heo rừng trong hóc núi
    Bao nhung nhớ tôi gửi về bên ấy
    *
    Vẫn nhớ vẫn thương và người xưa đâu?
    Bao cánh hạc bay trắng cả ruộng cày
    Cá đồng nội thức ăn từng bữa sống
    Ao bàu sâu đầm sen thơm bát ngát!
    Nay còn đâu ngày tháng mãi dần qua
    Nhớ quê xa xứ đàn trâu bò về
    Tiếng mõ canh vang lên từ hóc núi
    Bao năm ấy từng hồi tim đập mạnh.
    Bốn mươi năm ròng rã nỗi buồn vui!
    Rong ruổi mãi giờ đây đều vô vọng,
    Thăm cô nàng bạn học tuổi thơ kia!…

    Phan Nam

    • This reply was modified 2 years, 2 months ago by  Phan Nam.
  • #1221

    Phan Nam
    Moderator

    MẸ ƠI !
    Núi rừng xanh tắp màu xanh
    Hoa mai vàng nở nhiều cả rừng hoa
    Đẹp quá đi rồi! Con nhớ mẹ mỗi mùa Xuân
    May cho áo mới đơm khuây!
    Những ngày Tết, ăn nhiều bánh tét!
    Chưng xanh. nem chua, dưa món.
    Chim rừng hót vang núi đồi!
    Con nhớ mẹ lắm mẹ ơi!
    Mùa Xuân én liện vòm trời
    Con đi ứng chiến nơi này!
    Hứa ba năm lập chi về quê hương!
    Nhưng đã thập niên qua chưa về thăm đất mẹ!
    Núi rừng bồng lên khói ! Bao lần Xuân !
    Nhớ mẹ hiền!
    Nhớ quê muôn dặm nhớ người xa xăm!
    PN

    • This reply was modified 7 months, 3 weeks ago by  Phan Nam.
  • #1271

    Phan Nam
    Moderator

    EM ĐI – ANH VỀ!

    Em đi rừng Thu lá đổ
    Anh về lúa trỗ đơm bông!
    Từ đây xuân mộng qua dòng
    Sống trong bến đợi để lòng nhớ thương!

    Qua cơn biển động trùng dương
    Thương người Xuân sắc rẽ đường quanh hiu.
    Gió đưa gió bãi trăng chiều,
    Xuân trôi giấc mộng tiu đìu hòa tan!

    Vẻ chi một kiếp hồng nhan
    Đưa thuyền qua bến hoang tàn tịch dương.
    Khi nào cồn bãi giồng nương
    Cô em còn đấy đò trường chở anh

    Sông sâu mấy khúc giòng xanh
    Để ai tâm sự nửa vành trăng Thu!

  • #1277

    Phan Nam
    Moderator

    ĐẤT NƯỚC TÔI –

  • #1278

    Phan Nam
    Moderator

    Trên đây là tuyển chọn những bài sơ lược về lịch sử Việt – Do Yên Link gửi tôi !
    Thanks.
    PN

  • #1294

    Phan Nam
    Moderator

    Chữ Quốc NgữSự ra đời của chữ quốc ngữ
    Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh
    Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách (tại Đức)

    Lisboa – Bồ Đào Nha

    Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa, họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hường. Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đã là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, hòa nước ngọt của sông Tejo vào nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi lòng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở Châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, Châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc.
    . . .
    Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ vòng từ miền nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Macau.

    Nhà truyền giáo đến với cộng đồng bằng thuyền ở Việt Nam xưa

    Hẳn họ đã dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.

    Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên* chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa.. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng , đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Viet Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.

    Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp.Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong thang12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.

    Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).

    Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.

    Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.

    Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.

    Chú thích: * Bài viết trích từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký “Đường Xa Nắng Mới” của TS Nguyễn Tường Bách, tên bài viết do blog tự đặt.

    ¤¤¤

    Sự ra đời của chữ quốc ngữ –
    Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh

    CHỮ QUỐC NGỮ

    Nhân kỷ niệm 85 năm bãi bỏ chữ Nho (1919) và
    80 năm (1924) quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy
    tại cấp tiểu học Việt Nam
    ___

    Alexandre de Rhodes
    (1591 – 1660)

    Nguyễn Văn Vĩnh
    (1882 – 1936)

    Chữ Hán từng được dùng ở Việt Nam trong vòng một ngàn năm mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20.
    Alexandre de Rhodes (sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Namtruyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rất lớn trong việc La-mã hoá tiếng Việt(nhiều tác giả gọi là La-tinh hóa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La-tinh).

    Kế tục công trình của những người đi trước là các tu sĩ Jesuit (dòng Tên) người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong việc La-mã hóa tiếng Việt, Alexandre de Rhodes đã xuất bản Bài giảng giáo lý Tám ngày đầu tiên bằng tiếng Việt và cuốn từ điển Việt – La – Bồ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome.

    *** Hệ thống chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La-mã này được chúng ta ngày nay gọi là chữ quốc ngữ (chữ viết của quốc gia)

    ***Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại Hà Nội cái năm thành Hà Nội thất thủ vào tay quân Pháp do đại tá Henri Rivière chỉ huy. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nghèo nên không có tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vĩnh đã phải đi làm để kiếm sống. Công việc của cậu lúc đó là làm thằng nhỏ kéo quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên phụ – Hà Nội.

    Vừa kéo quạt, cậu vừa nghe lỏm bài giảng. Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh và còn trả lời được các câu hỏi của thày giáo trong khi các cậu con nhà giàu trong lớp còn đương lúng túng.
    Thầy giáo người Pháp thấy vậy bèn nói với ông hiệu trưởng giúp tiền cho cậu vào học chính thức.

    Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa học và trở thành một thông dịch viên xuất sắc.
    Sau đó ông được bổ làm trợ lý cho công sứ Pháp tỉnh Bắc Ninh. Năm 1906, lúc ông 24 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được Pháp gửi sang dự triển lãm tại Marseilles. Tại đây, ông được tiếp cận với kỹ nghệ in ấn và báo chí. Ông còn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập hội Nhân quyền Pháp.

    Trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh từ bỏ nghiệp quan chức và bắt đầu làm báo tự do.
    Năm 1907 ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo – tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.

    Năm 1913 ông xuất bản tờ Đông dương Tạp chí để dạy dân Việt viết văn bằng quốc ngữ.
    Ông là người đầu tiên dịch ra chữ quốc ngữ các tác phẩm của các đại văn hào Pháp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Molière, v.v. và cũng là người đầu tiên dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp.

    Bản dịch Kiều của ông Vĩnh rất đặc sắc, vì ông không chỉ dịch cả câu mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó – một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Pháp mới có thể làm được.

    Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hoá phương Tây trong dân Việt, và đẩy xã hội Việt Nam đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ quốc ngữ.

    Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương – Hội – Đình) ở Bắc Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp – Việt.

    Ngày 18 tháng 9 năm 1924, toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học.
    Như vậy là, sau gần ba thế kỷ kể từ khi cuốn từ điển Việt – La – Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới thật sự đoạn tuyệt với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang dùng chữ quốc ngữ.

    Đây quả thực là một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao, trong đó ông Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề báo của mình. Ông là người luôn lên tiếng phản đối chính sách hà khắc của Pháp đối với thuộc địa, là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã hai lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng, và cũng là người đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh.
    Vì thế chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương chẳng ưa gì ông. Tòa báo của ông vỡ nợ. Gia sản của ông bị tịch biên. Ông bỏ đi đào vàng ở Lào và mất ở đó năm 1936 vì sốt rét.

    Người ta tìm thấy xác ông nằm trong một chiếc thuyền độc mộc trên một dòng sông ở Sepole.
    Trong tay ông lúc đó vẫn còn nắm chặt một cây bút và một quyển sổ ghi chép: Ông đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp “Một tháng với những người tìm vàng”. Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh về đến ga Hàng Cỏ, hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông.

    Con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của Mình đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt.

    —Tôi đã vẽ bức tranh Sự ra đời của chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nói trên của dân tộc Việt Nam – Alexandre de Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh.

    Lời cảm ơn:

    Tác giả bài viết này biết ơn thân sinh của mình – nhà giáo Nguyễn Đình Nam, người đầu tiên kể cho tác giả về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh từ khi tác giả còn là học sinh tiểu học, khi sách giáo khoa chính thống còn gọi Alexandre Rhodes là gián điệp còn Nguyễn Văn Vĩnh là bồi bút của Pháp.

    Tác giả xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Kỳ – con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, và ông Nguyên Lân Bình – cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh vì những câu chuyện xúc động về cuộc sống và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh cũng như của gia tộc cụ.

    Tác giả xin cảm ơn thày Trí – cháu ngoại cụ Nguyễn Văn Vĩnh , đồng thời từng là thày dạy toán của tác giả khi tác giả là học sinh trung học.

    Nguyễn Đình Đăng
    Tokyo, 10/11/2004

  • #1295

    Phan Nam
    Moderator

    TAY SON CULTURAL.
    KỊCH THƠ:
    Trong đêm Nguyễn Huệ múa kiếm ( thao lược ), trong lòng luôn lo âu vì có tin báo, giặc Thanh đang tràn sang xâm chiếm nước ta.

    – Quân Thanh ngoài bờ cõi,
    Cuồn cuộn như sóng dữ.
    Nào ngựa xe, đoàn binh sát khí
    Từ biên cương đến tận Hà Thành.
    Quyết chiếm lấy nước Nam.
    Ta! Hoàng đế Quang Trung !
    Xuất thân áo vải cờ đào.
    Chí lớn bảo toàn lãnh thổ,
    Không để dân sống đời nô lệ.
    Một giải giang sơn hình chữ S
    Gây dựng bỡi bao thế hệ Tiên Rồng
    Không để mất bỡi quân Thanh xâm lược!
    Hỡi hồn thiêng sông núi!
    Hỡi dân tộc Việt anh hùng!
    Hãy cùng ta đáp đền Sông Núi.
    Không làm nô lệ ngoại bang.
    Cùng ta xông pha ngoài trận mạc.
    Ngọc Hân yểu -điệu bước ra:
    – Nửa vầng trăng núi rừng mờ ảo.
    – Gió núi đồi thắm lạnh sương khuya.
    – Lẻ loi một bóng anh hào.
    Lung linh nguyệt chiếu vạn sầu mênh mang!
    • Cô đơn bóng lẻ trăm bề.
    Cách nào cứu nước vẹn toàn quân binh.
    Đuổi thù trị nước an dân,
    Quân ta ít ỏi quân Thanh ào ào!
    Thưa Ngài:
    Trăng sáng lòng càng sáng toả.
    Quân Thanh đông đúc tiến vào
    Dân Nam ý chí một lòng
    Hiêng ngang, ngang dọc trên mình Quang Trung.
    Tinh thần ý chí đứng đầu
    Lo gì không dẹp được thù
    Cầm quân ra trận ngày về vinh quang!
    QUANG TRUNG Trả Lời:
    – Ta đang lo lắng trăm bề
    – Nghe nàng chí lớn, lòng ta nhẹ nhàng
    – Yêu nước thương dân ta quyết diệt thù.
    – Ngày mai ra trận ta say chiến trường!
    – Gửi nàng một cánh Hồng đào
    – Là ta đại thắng ngày về vinh quang
    Ngọc Hân :

    Tiễn chàng đêm lạnh trăng thanh
    Phú Xuân hùng vĩ cây xanh núi đồi.
    Giang sơn gánh nặng quằng vai
    Mảnh xiêm đỏ thắm nhung bào.
    Người đi, người ở hỡi ai vững lòng.
    Dẹp tình riêng nợ núi sông.
    Một chiến công, một chiến công .
    Vang danh một bóng anh tài
    Bắc Bình Vương ngàn năm sáng ngời!
    Đánh tan lũ quân Thanh,
    Ngọc Hà Hồi ghi vào lịch sử.
    Đống Đa vinh quang dân tộc.
    Anh hùng Nguyễn Huệ Thống nhất giang Sơn…
    *)- Tiễn chàng một khúc dương quang,
    – Thăng Long anh tới, Phú Xuân em về!
    Anh hùng vận nước còn sang,
    Đừng dun mày liễu mà quằng ruột hoa!

    • This reply was modified 6 months, 2 weeks ago by  Phan Nam.
  • #1305

    Phan Nam
    Moderator

    HUẾ TÔI YÊU

    Tôi yêu Huế hay yêu người
    Hương Giang nước chảy đượm lời nước non
    Vẻ chi thấm đậm Ngọ mô ?
    Xót xa cách mặt con đò Hương giang .
    Trời Thu nắng tắt trên ngàn,
    Nhớ người xứ Huế bẽ bàng duyên đâu!
    Trăm năm bao cuộc biển dâu
    Lửa hương chưa vẹn vương màu giang san!
    PN

  • #1332

    Phan Nam
    Moderator

    BÙI CHÍ VINH
    HẬU BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
    “Như nước Việt ta từ trước
    Vốn xưng văn hiến đã lâu
    Sơn hà cương vực đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác”
    Lần thứ hai, đất nước
    Khoác ba lô theo Nguyễn Trãi lên rừng
    Bài tuyên ngôn chuẩn bị trước mười năm
    Chân trái đạp đầu quân Minh, chân phải bước vào Văn Miếu
    Có phải lần trước bên này sông
    Lý Thường Kiệt ung dung phát biểu :
    ”Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”
    Bài tuyên ngôn đầu tiên khi chưa xác định màu cờ
    Dung tích máu không có ngân hàng nào chứa nổi
    Ông cha ta đánh giặc, ông cha ta làm thơ
    Ngọn giáo chẳng suy tư dù dạ dày có đói
    Lương thảo ở Lam Sơn được đo lường bằng xác con ngựa già chia những phần ăn cuối
    Thực đơn của nghĩa sĩ Tây Sơn trên võng cáng băng rừng là cơm nắm, rau măng
    Những cuộc hành quân không nhờ cậy thánh thần
    Được ra đời giống như truyền thuyết
    Mà truyền thuyết cũng vô cùng đặc biệt
    Những cuộc hành quân nhà chép sử phải đau đầu
    Mười vạn chiến sĩ nông dân vượt sông Mã ra sao
    Để kịp ăn Tết Thăng Long với anh hùng Nguyễn Huệ ?
    Hàng trăm thớt voi vượt sông Cả thế nào
    Để hoa đào Nhật Tân không nở trể ?
    Cái giá của tuyên ngôn lạ lùng như thế
    Quá khứ có thịt xương nên hiện tại có luân hồi
    Tương lai không dành cho bọn sâu bọ làm người
    Không thuộc độc quyền lũ rước voi giày mã tổ
    Không nằm trong tay đám cõng rắn cắn gà nhà láu cá
    Tương lai là của những kẻ đứng mũi chịu sào dám đem hạt gạo xẻ làm đôi
    Những kẻ dám mở cuộc hành trình chống suy dinh dưỡng
    Từ nạn đói năm 45 đi tới tiếng cười
    Chúng ta yêu nhau đúng quy luật con người
    Em yêu anh và anh yêu em đấy
    Đừng quay đầu và đừng khép đôi môi
    Khi tim cùng đập ở lồng ngực trái
    Có Hội Thề Lũng Nhai mới có quân sư Nguyễn Trãi
    Có bô lão mài gươm mới có Hội Nghị Diên Hồng
    Hạt thóc thành cơm nhờ cấy ở trên đồng
    Không có hạt thóc nào tái sinh nếu gieo trên sàn lót nệm
    Chúng ta yêu nhau chẳng cần ai bảo hiểm
    Những đứa con như những chứng từ
    Đất nước mình phải cấp chứng minh thư
    Cho bất cứ ai làm ra sản phẩm
    Nếu chiến tranh sinh ra những bài tuyên ngôn chiến thắng
    Thì hòa bình còn lâu mới là bức bình phong mang khẩu hiệu giả hình
    Đừng bắt Phật bị cầm tù, đừng bắt Chúa bị đóng đinh
    Con mắt láo liên làm sao mà nhìn thẳng
    Mười ngón chân ta không mọc đằng sau nên không hối hận
    Lúc bước đi gặp dấu của ông bà
    Lúc đọc bài thơ gặp bát ngát trường ca
    Làm sao nói hết về tình yêu tổ quốc
    Cái lai lịch trong một chương, cái cội nguồn trong một mục
    Cuộc sắp xếp văn minh trong trật tự mỗi điều
    Cũng như làm sao minh họa hết tình yêu
    Sự rung động của các tế bào gây cảm xúc
    Ta yêu tổ quốc bằng bài thơ giữ nước
    Đại Cáo Bình Ngô một thuở lên đường
    Ta yêu tổ quốc bằng bài thơ dựng nên cột mốc
    Biết giữ gìn từng tấc đất biên cương
    Uy lực của một nước có chủ quyền từ hàng loạt tuyên ngôn
    Cuộc chiến đấu ngàn năm bằng chữ
    Luật Hồng Đức, luật Quang Trung
    Hiến pháp của Rồng Tiên đó chứ !
    Ta bỗng thơ ấu như bắt đầu tham dự
    Chuyện kể ngày xưa về cô chú ông bà
    Ta bỗng nồng nàn hiểu máu và hoa
    Thấm thía trong từng chương vệ quốc
    Ta bỗng bàng hoàng thấy đường trên mặt đất
    Có triệu bàn chân Nam tiến phá rừng
    Ta bỗng hiên ngang tuyên bố rõ ràng
    Bờ biển Việt Nam hình cong như chữ S
    Đất nước Việt Nam bắt đầu từ ải Nam Quan bất diệt
    Đất nước Việt Nam kết thúc bằng mũi Cà Mau lẫm liệt
    Không có lý do gì giặc ngoài thù trong móc ngoặc cách chia
    Máu chảy 4000 năm cho cuống rún chưa lìa
    Khi trước trận thắng giặc Mãn Thanh, vua Quang Trung hiệu triệu
    Khi nghĩa sĩ Tây Sơn cùng đồng thanh phát biểu :
    ”Đánh cho để dài tóc
    Đánh cho để đen răng
    Đánh cho nó chích luân bất phản
    Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
    Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
    Ta bất chợt nhìn ra mình thật sự

  • #1334

    Phan Nam
    Moderator

    TIẾNG VIỆT,
    Tiếng Việt có từ khi giống dân Bách Việt sinh tồn, chữ viết tùy thời gian có sưu khảo thay đổi qua nhiều cách… Chữ thập Châu, Chữ Nho, chữ Nôm, Chữ Việt…Chữ Việt ( quốc ngữ ) theo mẫu tự Latinh ghép lại… rất dễ học và dễ nhớ để viết ra. Theo tiếng nói của người Việt Nam ta.
    Chữ Việt có được nhờ công của cố đức Giám Mục Alexandre de Rhodes … trải qua 3 thế kỷ. Rất phong phú khi đọc và viết văn, thơ, phú hay công văn hành chánh có sau chữ Nôm… Cho đến ngày nay đã khắc sâu vào tâm hồn dân tộc.
    Nên chúng ta phải tôn trọng và lưu truyền cho những thế hệ sau này… tiêng Việt còn , chữ Việt còn thì văn hóa Việt vẫn còn.

You must be logged in to reply to this topic.

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial
Skip to toolbar